THÔNG BÁO: WEBSITE HIỆN ĐANG TRONG QUÁ TRÌNH CHẠY THỬ NGHIỆM
Thứ 2, 11/12/2017
Hotline: 0988003355

Thực trạng quản lý môi trường chăn nuôi lợn tại Việt Nam và đề xuất giải pháp khắc phục

Nước ta có truyền thống lâu đời về chăn nuôi lợn và đóng vai trò quan trọng cho sự phát triển của nền kinh tế quốc dân. Tuy nhiên, ngành chăn nuôi lợn cũng đã và đang gây ra những áp lực nặng nề về môi trường. Tình trạng ONMT nước, chất thải rắn và không khí tại các khu vực chăn nuôi lợn là vấn đề bức xúc cho xã hội đòi hỏi các nhà quản lý cần có những giải pháp quản lý hiệu quả hơn.

Ảnh minh họa

Phát triển chăn nuôi lợn và hệ quả ô nhiêm môi trường nước ta

Ngành chăn nuôi lợn ở nước ta đứng thứ 6 trên thế giới về sản lượng lợn và là ngành đóng vai trò quan trọng trong nền kinh tế quốc dân (đóng góp 26,3% trong giá trị nông nghiệp, chiếm 4,8% GDP, dự kiến đạt 42% năm 2020). Từ năm 2000 đến 2005, ngành chăn nuôi lợn phát triển mạnh mẽ, số lượng đàn lợn tăng đột biến từ 20.200 con tăng lên 27.434.895 con. Giai đoạn từ năm 2005 đến nay, chính sách phát triển chăn nuôi lợn đã có sự chuyển dịch sang ổn định tổng số đầu lợn, tăng giá trị sản xuất và qui mô đàn. Từ năm 2010 đến năm 2017, tổng số đầu lợn trên cả nước dao động từ 27.373.149 con đến 28.911.285 con. Bên cạnh những thành quả mà ngành chăn nuôi lợn mang lại, thì ngành cũng tạo ra nhiều áp lực về môi trường. Chăn nuôi nông hộ từ 10 đến 100 con lợn trong phạm vi chật hẹp của gia đình. Mặc dù, các hộ gia đình có xây dựng hầm biogas, tuy nhiên đa phần đều bị quá tải. Chất thải nhiều nơi được thải trực tiếp ra ao, hồ, kênh mương của địa phương gây ONMT nghiêm trọng.

Chăn nuôi trang trại là chăn nuôi tại các khu vực có diện tích lớn, với qui mô trên 100 con lợn ngày càng phát triển. Đây là hình thức chăn nuôi được phát triển theo chủ trương của Chính phủ trong bối cảnh hội nhập, hiện đại hóa. Chăn nuôi theo quy mô trang trại đã góp phần cải thiện tình trạng ONMT. Tại nhiều địa phương như Nghệ An, Hà Tĩnh…, UBND các tỉnh đã ban hành nhiều chính sách ưu đãi tài chính để phát triển mạnh mẽ mô hình này, nhằm hạn chế chăn nuôi nông hộ nhỏ lẻ. Tuy nhiên, sự bùng nổ về số lượng trang trại chăn nuôi với quy mô đàn lớn, trong khi công tác kiểm soát ONMT còn chưa đồng bộ đã dẫn đến tình trạng ONMT gia tăng.

Thực tế cho thấy, mặc dù chúng ta đã ban hành các văn bản QPPL về quản lý môi trường chăn nuôi tương đối đầy đủ. Các cơ quan QLNN đã được quy định chức năng, nhiệm vụ ở từng cấp về quản lý môi trường chăn nuôi nói chung. Tuy nhiên, bên cạnh những ưu điểm, thực tiễn triển khai đã và đang bộc lộ những tồn tại nhất định.

Hiện nay, Bộ TN&MT và Bộ NN&PTNT đang có sự chồng chéo về chức năng, nhiệm vụ trong quản lý chất thải chăn nuôi. Việc xây dựng quy chuẩn, tiêu chuẩn xả thải cho ngành chăn nuôi được thực hiện bởi cả hai Bộ. Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia TCN-678:2006 về nước thải sau xử lí khí sinh học của Bộ NN&PTNT không còn hiệu lực khi Luật Tiêu chuẩn và Quy chuẩn ra đời. Bộ TN&MT ban hành QCVN 62-MT:2016/BTNMT về nước thải chăn nuôi với các chỉ tiêu quá cao so với khả năng thực tế ứng dụng công nghệ xử lý môi trường hiện tại, dẫn đến hầu hết các trang trại đều không thể đáp ứng yêu cầu đặt ra do chưa có công nghệ xử lý môi trường chăn nuôi hiệu.

Mặc dù, hai bộ có sự chồng chéo về chức năng, nhiệm vụ nhưng bỏ sót nhiều khoảng trống trong quản lý môi trường chăn nuôi. Thực tế triển khai cho thấy, do hạn chế về nhân lực của các Sở TN&MT, số lượng và tần suất thanh tra, kiểm tra tại các địa phương là rất hạn chế. Tại Hòa Bình, Sở TN&MT chỉ mới thanh tra, kiểm tra thường xuyên tại 20 trang trại trên tổng số 78 cơ sở chăn nuôi. Tại Hà Nam, đã có 7 cơ sở chăn nuôi trên tổng số 20 trang trại bị phạt trên 90 triệu đồng do không thực hiện đúng cam kết trong Báo cáo ĐTM. Tại Hà Tĩnh, do số lượng trang trại tăng đột biến trong năm 2015, trong khi số lượng cán bộ là 6 người có chức năng thanh tra, kiểm tra môi trường của Chi cục BVMT, vì vậy, hằng năm chỉ có 2 đợt thanh tra định kỳ và tiến hành thanh tra đột xuất khi có đơn thư, khiếu nại trên địa bàn tỉnh.

Bên cạnh đó, các quy định pháp luật liên quan đến quản lý chất thải và nước thải chăn nuôi lợn còn nhiều bất cập, thiếu tính khả thi. Các tiêu chuẩn kỹ thuật mới chỉ được ban hành cho các công trình khí sinh học quy mô nhỏ. Chưa có tiêu chuẩn đối với quy mô công trình khí sinh học trang trại ( từ 50m3 đến 1000m3, tương ứng với qui mô từ 200 đến 4000 con lợn). Thực tế, các chủ doanh nghiệp phải tự nghiên cứu và lắp đặt công trình theo tư vấn của các công ty tư vấn môi trường. Nhiều công trình khí sinh học không hoạt động hiệu quả.

Đối với việc thu hồi khí sinh học, chưa có văn bản nào quy định về việc thu hồi, sử dụng. Đây là nguồn nguyên liệu sạch được sử dụng hiệu quả cho việc phát điện hoặc cung cấp nhiên liệu chạy động cơ đã được sử dụng phổ biến tại nhiều quốc gia trên thế giới (như Thái Lan).

Một bất cập khác về quy định trong văn bản pháp luật là Sở NN&PTNT quản lý số lượng đàn, các qui định về qui mô trang trại theo số lượng đầu lợn (trang trại qui mô >100 con lợn). Trong khi Sở TN&MT quản lý theo qui mô trang trại (theo quy định của Luật BVMT năm 2014, các trang trại có diện tích >1000 m2 phải lập báo cáo ĐTM và đề án BVMT chi tiết). Vì vậy, các số liệu thống kê còn chưa khớp. Sở TN&MT còn lúng túng trong công tác quản lý.

Đề xuất giải pháp

Để đạt mục tiêu ngành chăn nuôi phát triển theo hướng chăn nuôi công nghiệp tập trung và hiện đại, bảo đảm chăn nuôi an toàn, thân thiện với môi trường nhằm phát triển bền vững cần thực hiện đồng bộ các giải pháp sau:

Bộ TN&MT và Bộ NN&PTNT cần triển khai hiệu quả chương trình phối hợp công tác giữa hai bộ giai đoạn 2017 - 2020, phối hợp chặt chẽ trong rà soát, sửa đổi, bổ sung hoặc bãi bỏ, thay thế các văn bản pháp luật quy định về quản lý môi trường trong hoạt động chăn nuôi đáp ứng yêu cầu thực tiễn (sửa đổi QCVN đối với nước thải chăn nuôi, ban hành quy chế BVMT trong chăn nuôi, ban hành hướng dẫn, tiêu chuẩn đối với công trình khi sinh học quy mô trang trại, xây dựng và ban hành hướng dẫn kỹ thuật sản xuất sạch hơn trong hoạt động chăn nuôi...).

Xây dựng cơ chế, chính sách phù hợp và kịp thời nhằm tăng cường sử dụng nguồn khí sinh học từ các công trình khí sinh học phục vụ cho phát điện, chạy động cơ góp phần tiết kiệm TNTN và giảm phát thải khí nhà kính.

Công tác thẩm định và hậu thẩm định ĐTM ở các cấp cần được thực hiện chặt chẽ, bảo đảm yêu cầu. Công tác thanh tra, kiểm tra cần được tăng cường mạnh mẽ. Nguồn nhân lực về quản lý môi trường tại Sở TN&MT và Sở NN&PTNT cần được tăng cường về số lượng và chất lượng.

Tăng cường triển khai các nghiên cứu về công nghệ xử lý chất thải chăn nuôi hiệu quả xử lý cao và chi phí đầu tư phù hợp, kỹ thuật tách phân rắn để ủ compost và các công trình xử lý sau biogas trước khi xả thải vào môi trường.

Từng bước hoàn thiện cơ chế, chính sách ưu đãi, hỗ trợ tài chính theo hướng dễ tiếp cận đối với các doanh nghiệp đầu tư trong lĩnh vực chăn nuôi có xây dựng công xây công trình khí sinh học. Tăng cường các trợ giá tiêu thụ sản phẩm phân compost từ chất thải, trợ giá tiêu thụ điện với các trang trại có sử dụng hệ thống phát điện từ khí biogas, phát triển sạch (CDM).

ThS. NGUYỄN THỊ QUỲNH HƯƠNG

Viện Khoa học môi trường