THÔNG BÁO: WEBSITE HIỆN ĐANG TRONG QUÁ TRÌNH CHẠY THỬ NGHIỆM
Thứ 2, 11/12/2017
Hotline: 0988003355

Phát triển văn hóa trong khai thác tài nguyên nước

Nước là một hiện tượng tự nhiên điển hình. Văn hóa là một hiện tượng xã hội điển hình. Hoạt động đời sống con người gắn bó mật thiết với nước và văn hóa phản ánh rất đặc sắc trong văn hoá nước.

Ảnh minh họa

Nước và sự hình thành các nền văn hoá

Trên thế giới đã có nhiều cách nhìn nhận, sử dụng và tổ chức các lễ hội văn hóa về nước vì có sự đa dạng về truyền thống văn hoá nước. Đối với nhiều tôn giáo, nước rất linh thiêng và nó được sử dụng trong các nghi lễ khác nhau. Nước được thể hiện trong nghệ thuật qua hàng thế kỷ - trong âm nhạc, hội họa, văn học, phim ảnh - và nó cũng là yếu tố trọng tâm của các nhà nghiên cứu khoa học. Mỗi khu vực thế giới có cách khác nhau thể hiện tính linh thiêng của nước, tuy nhiên đều nhận ra giá trị và vai trò trọng tâm của nó trong đời sống của con người. Truyền thống văn hoá, cách hành xử của người dân và giá trị xã hội quyết định con người nhận thức và quản lý TNN  như thế nào.

Nước là một loại vật chất đặc biệt chiếm 3/4 bề mặt trái đất. Trong cấu trúc động thực vật thì nước chiếm tới 95 – 99% trọng lượng các loài cây dưới nước, 80% trọng lượng các loài cá, 70% trọng lượng các loài cây trên cạn, 65 – 75% trọng lượng con người và các loài động vật.

Nước là nền tảng của sự sống, không một sinh vật nào có thể sống thiếu nước. Khoảng năm 1760, Lê Quý Đôn đã đánh giá “Vạn vật không có nước không thể sống được, mọi việc không có nước không thể thành được”. 250 năm sau, thế giới khẳng định “Nước là tài nguyên quan trọng thứ hai sau tài nguyên con người”.

Nước là điều kiện đầu tiên xác định sự tồn tại của sự sống, của con người và gắn với nó là nền văn hoá. Sa mạc Sahara từng là một vựa lúa thời cổ La Mã, nhưng khi nguồn nước khô cạn, thì toàn bộ nền văn minh, văn hóa ở đây cũng tàn lụi theo. Trên thế giới, phần lớn các nền văn hoá cổ nổi tiếng đều hình thành ở đồng bằng châu thổ các dòng sông lớn. Văn hoá Ai Cập trên sông Nile, văn hoá Lưỡng Hà vùng đồng bằng Sông Tigris và Euphrates, văn hoá Ấn Độ ở Đồng bằng sông Hằng - sông Dư, văn hoá Trung Quốc sông Hoàng Hà - Trường Giang. Nền văn minh lúa nước người Việt cổ tập trung ở đồng bằng ba sông lớn là sông Hồng, sông Mã, sông Cả. Nước là điều kiện tiên quyết của các nền văn minh, văn hoá nước ta.

Khai thác, quản lý tài nguyên nước

Văn hoá sử dụng nước, ứng xử với nước có thể gọi tắt là văn hoá nước. Ở Việt Nam, do người Việt cư trú ở vùng sông nước nên mọi thứ đều phải thích nghi với nước: Từ chim muông, súc vật, cây cối đến con người. Con người trong hoàn cảnh tự nhiên đó đã tạo nên nền văn hoá nước đa dạng, phong phú, đa màu sắc, tập quán thói quen, nhưng tựu trung lại là tận dụng  cái lợi, hạn chế mặt hại của nước và có thể đến mức gìn giữ, tôn thờ nước để mưu cầu cuộc sống trường tồn. Với ngôn ngữ hiện đại ngày nay, chúng ta gọi là quản lý tổng hợp TNN vì sự phát triển bền vững.

Tận dụng, khai thác mặt lợi của nước

Ăn, từ 5000 – 6000 năm trước công nguyên, thức ăn trong bữa ăn hàng ngày của người Việt cổ là cơm - rau - cá mà chủ yếu là cơm gạo, chiếm tới 70-80%, bởi vậy tiếng Việt gọi bữa ăn là bữa cơm. Sau cơm đến rau và loại rau được ưa thích là rau muống - một loại thực vật sống trong nước đã trở thành một trong những biểu tượng của người Việt Nam. Cá là thành phần thứ ba.

Do khí hậu nóng nên nhà của người Việt thường chọn dựng ở gần, thậm chí có tập quán sống ngay trên sông nước, nếu không có suối thì đào ao, tạo đầm, hồ. Họ luôn có xu hướng sống gần nguồn nước.

Đi lại, từ ngàn xưa, sông nước và biển khơi là phương tiện đi lại chủ yếu của người Việt. Hình ảnh bến sông, con đò vẫn còn mãi trong tiềm thức người Việt. Cách sống, phong tục, tập quán của người Việt Nam gắn chặt với nước và sông nước đã ảnh hưởng lớn đến sự hình thành các đô thị. Phần lớn các đô thị của nước ta trong lịch sử đều ở bên sông hoặc là những cảng sông, cảng biển.

Trong quân sự, những trận thắng lớn của Việt Nam trong lịch sử chống ngoại xâm đều là những trận thuỷ  chiến ông cha ta đã khôn khéo  lợi dụng diễn biến của nguồn nước ở các cửa sông để phá tan các đạo quân hùng mạnh của giặc ngoại xâm.

Đối phó với nước

Nước cũng luôn đe doạ cuộc sống của con người. Người Việt Nam coi nước là tai hoạ đứng đầu: thuỷ – họa - đạo – tặc. Để chống lại thiên tai lũ lụt, người Việt Nam từ thời tiền sử dựng nước đã biết tiến hành đắp đê ngăn nước chống lũ. Việc này được ghi lại một cách hình tượng trong truyền thuyết Sơn tinh – Thuỷ tinh.

Tôn thờ nước

Những khó khăn mà nước gây ra khiến con người sợ nước. Sợ nhưng vẫn không thể sống thiếu nó được nên từ lâu trong xã hội người Việt đã tôn thờ nước, xem nước như thần.

Cư dân Việt Nam luôn tôn thờ nước như một trong những lực lưỡng tự nhiên quan trọng nhất. Đó là Mẹ Nước, Bà Thuỷ, hay Mẫu Thoải (biến âm từ chữ Thuỷ), rồi Bà Chúa Sông, Bà Chúa Lạch. Sợ thiếu nước, người Việt thường xuyên cầu mưa thông qua việc thờ các bà Mây – Mưa – Sấm – Chớp, thờ tượng cóc; qua việc rước nước, đánh trống đồng, đốt pháo, ... tất cả đều cầu mưa, cầu Trời làm mưa, cầu có nước.

Nước là đối tượng thờ cúng và cũng là phương tiện thờ cúng. Trên bàn thờ của người Việt, rượu có thể có hoặc không, nhưng li nước lã thì nhất thiết không bao giờ thiếu.

Tôn thờ nước, trải qua hàng nghìn đời, đã trở thành nếp sống, thành phong tục, tập quán, rồi từ đời này truyền qua đời khác các lễ hội nước còn mãi đến nay trong dân gian.

Con người vui chơi cùng nước

Các trò chơi của người Việt Nam phần nhiều cũng xoay quanh sông nước. Các trò chơi đốt pháo, đập pháo có nguồn gốc từ tín ngưỡng cầu mưa; trò chơi thả diều có nguồn gốc từ tín ngưỡng cầu cạn; các trò rèn luyện sự nhanh nhẹn, khéo léo liên quan đến nước như thi thổi cơm, bắt chạch, bắt vịt, đi cà kheo, đua thuyền, đua ghe, thi bơi, thi lặn... Các trò cướp nước, rẩy nước, té nước trong các lễ hội rất phổ biến ở mọi miền Việt Nam.

Văn hoá và vấn đề quản lý tài nguyên nước

Quản lý TNN phải cân nhắc tới tất cả các khía cạnh, trong đó có văn hoá nước bởi vì nước và văn hoá là hai yếu tố gắn bó với con người. Nước tạo ra văn hoá đặc thù. Văn hoá lại ảnh hưởng tới nước thông qua vai trò của nó trong việc giáo dục ứng xử của con người đối với nước. Quả thật, giá trị văn hoá và các giá trị xã hội quyết định tới việc con người xác định giá trị, nhận thức và quản lý như thế nào đối với tài nguyên nước. Chẳng hạn, với nền văn minh lúa nước, con người coi nước là yếu tố hàng đầu trong bốn yếu tố của nghề nông (nhất nước, nhì phân, tam cần, tứ giống).

Văn hoá khác nhau thì việc định giá trị và nhận thức về tài nguyên nước cũng có những điểm khác nhau, như: văn hoá trong phòng tránh, giảm nhẹ hậu quả tác hại do nước gây ra; văn hoá, văn minh trong khai thác, sử dụng nước (sử dụng nước hợp lý, tiết kiệm, trong lành, sạch sẽ); văn hoá trong phát triển tài nguyên nước, bảo vệ, bảo tồn, gìn giữ tài nguyên nước. Toàn dân tham gia bảo vệ, bảo tồn tài nguyên nước. Đó là văn hoá trong ứng xử với nước mà cao hơn là văn minh trong quản lý tài nguyên nước.

Nước là nguồn của sự sống. Tất cả mọi người ai ai cũng phải dùng nước. Nước có vai trò cực kỳ quan trọng trong đời sống xã hội, bên cạnh giá trị kinh tế, nước có giá trị văn hoá xã hội to lớn. Bởi vậy, nếu không hiểu và cân nhắc không đầy đủ các khía cạnh văn hoá của nước, chúng ta sẽ không thể tìm ra giải pháp toàn diện với tính xã hội hoá cao và bền vững trong quản lý nguồn tài nguyên vô cùng quý giá này.

HÀ KHANH