THÔNG BÁO: WEBSITE HIỆN ĐANG TRONG QUÁ TRÌNH CHẠY THỬ NGHIỆM
Thứ 2, 10/12/2018
Hotline: 0988003355

Liên đoàn Vật lý Đia chất - 50 năm xây dựng và phát triển

Tôi gặp lại kỹ sư Lại Mạnh Giàu, Liên đoàn trưởng Liên đoàn VLĐC tại Trụ sở làm việc vừa xây dựng lại khá khang trang. Nụ cười chan hoà, toả sáng gương mặt sạm mầu nắng gió của người kỹ sư đã gắn bó và trưởng thành hơn 25 năm có lẻ tại đơn vị, ông Giàu chia sẻ về những thành tựu nổi bật của Liên đoàn VLĐC suốt nửa thế kỷ qua.

 

Ông LẠI MẠNH GIÀU

Bí thư Đảng ủy

Liên đoàn trưởng

 

PV: Năm năm gần đây (2012 đến 2016), Liên đoàn VLĐC đạt thành tích xuất sắc trong thực hiện các chức năng, nhiệm vụ Nhà nước giao về điều tra đánh giá khoáng sản và khảo sát địa vật lý môi trường với sản lượng lớn, ông có thể giới thiệu một số đề án tiêu biểu?

Ông Lại Văn Giàu: Các đề án có đầu tư lớn mà Liên đoàn đã và đang thực hiện trong những năm gần đây gồm:

Đề án: “Điều tra đánh giá tổng thể tài nguyên than phần đất liền, bể Sông Hồng” bằng phương pháp địa chấn 2D và địa vật lý lỗ khoan nhằm dự báo tài nguyên than bể sông Hồng với diện tích 2.765 km2 thuộc địa phận các tỉnh: Hưng Yên, Hải Dương, Thái Bình, Hà Nam, Nam Định, Hải Phòng. Để thực hiện nhiệm vụ này, Liên đoàn được trang bị bộ máy đo địa chất phản xạ 2D SEREL 428 LITE (Pháp) và máy đo địa vật lý lỗ khoan Microloger (I000184) hãng ROBERTSON (Anh). Đây là 2 bộ máy có công nghệ tiên tiến, lần đầu tiên Tổng cục ĐC&KS Việt Nam được trang bị và giao cho Liên đoàn VLĐC. Tài liệu địa chấn và địa vật lý lỗ khoan đã phân định khá rõ ràng ranh giới các tập, lớp trầm tích theo chiều sâu, có thể sử dụng để xác định chính xác lại ranh giới cột địa tầng lỗ khoan, xác định và chính xác hóa các đứt gãy kiến tạo, dự đoán các tập đất đá chứa than, nghèo than và không chứa than. Đề án đang tiếp tục được triển khai.

 Đề án: “Điều tra, đánh giá tổng thể tiềm năng magnesit, dolomit và wolastonit vùng Tây Sơ Ró, huyện Kon Chro, tỉnh Gia Lai” bằng các phương pháp địa vật lý, khoan, khai đào... Đến nay đã hoàn thành giai đoạn điều tra khoáng sản tỷ lệ 1:25.000, đã phát hiện, khống chế được các thân quặng, dải quặng magnesit, dolomit và wolastonit và phát hiện mới quặng felspat có chất lượng tốt. Khoanh định được diện tích để đánh giá khoáng sản tỷ lệ 1:5.000 đối với các khoáng sản magnesit, dolomit, felspat và wolastonit.

Trong lĩnh vực điều tra môi trường địa chất, tai biến địa chất, Liên đoàn VLĐC đã và đang triển khai các đề án lớn như:

Đề án: “Thành lập bản đồ phông bức xạ tự nhiên Việt Nam tỷ lệ 1:1.000.000”, từ năm 2008 đến năm 2015 kết thúc, Liên đoàn đã thành lập bộ bản đồ phông bức xạ tự nhiên Việt Nam tỷ lệ 1: 1000.000 phục vụ cho công tác quản lý và điều tra môi trường tiếp theo.

Đề án: “Điều tra, đánh giá và phân vùng cảnh báo nguy cơ trượt lở đất đá các vùng miền núi Việt Nam” do Viện Nghiên cứu Khoa học ĐC&KS chủ trì. Liên đoàn tham gia một phần công việc với tư cách là đơn vị thành viên. Kết quả đã khoanh định những diện tích, khu vực cảnh báo có nguy cơ trượt lở đất cho các tỉnh Thanh Hóa và Điện Biên.

Đề án “Đánh giá chi tiết các diện tích ô nhiễm phóng xạ tự nhiên vùng Tây Bắc Việt Nam để thông báo cho UBND cấp tỉnh phối hợp lập kế hoạch và triển khai thực hiện các biện pháp cần thiết nhằm giảm đến mức thấp nhất tác hại đối với con người”. Đến năm 2016, công tác đo đạc thực địa để xác định diện tích ô nhiễm phóng xạ tự nhiên đã tiến hành cho 02 vùng Minh Đài (huyện Thanh Sơn và Tân Sơn (Phú Thọ), vùng Nam Đông Cửu (Đà Bắc, tỉnh Hòa Bình).

Đề án: “Xây dựng bộ bản đồ môi trường phóng xạ tự nhiên tỷ lệ 1/250.000 trên lãnh thổ Việt Nam”, đang được triển khai thi công thực địa cho một số vùng trọng điểm như: Ninh Thuận, Hà Nội, Hải Phòng.

Chuẩn bị mìn đo địa chấn - Dự án than Sông Hồng

PV: Trong lĩnh vực Dịch vụ kỹ thuật và công nghệ địa vật lý, Liên đoàn VLĐC được đánh giá là năng động, hiệu quả, là địa chỉ được nhiều đối tác tin cậy, tìm đến. Điều gì tạo nên sức hấp dẫn đó của Liên đoàn thưa ông?

Ông Lại Mạnh Giàu: Liên đoàn VLĐC rất chú trọng đến công tác sản xuất dịch vụ địa chất nhằm tạo công ăn việc làm và tăng thu nhập cho CBVC và NLĐ, đồng thời khẳng định thương hiệu của Liên đoàn với các đơn vị ngoài ngành và các nước trong khu vực. Trong 5 năm qua, Liên đoàn đã ký, thực hiện hoàn thành nhiều hợp đồng kinh tế có sản lượng hàng trăm tỷ đồng với các đối tác trong lĩnh vực chủ yếu là địa vật lý trong điều tra thăm dò khoáng sản, điều tra địa chất công trình, địa chất thủy văn và tai biến địa chất. Sản lượng đat được và thu nhập của người lao động tăng năm sau cao hơn năm trước. Thu nhập của NLĐ năm 2012 từ 12.820.530 đồng tăng lên 18.645.000 đồng năm 2016.

Về dịch vụ địa vật lý trong  những năm gần đây bao gồm: Khảo sát, đánh giá, đề xuất giải pháp xử lý trồi lún, nứt mặt đường đoạn tuyến quốc lộ 6  với Công ty TNHH BOT Quốc lộ 6 Hà Nội - Hòa Bình. Khảo sát thực hiện hồ sơ phê duyệt địa điểm và đánh giá môi trường cho dự án nhà máy điện  hạt nhân Ninh Thuận 1 và Công ty CPTV XD Điện 2. Dự án Khai thác và chế biến muối mỏ tại Huyện Nongbok, tỉnh Khammouan, nước CHDCND Lào  với  Công ty CPTVĐT và XD Mỏ. Khảo sát, điều tra, đánh giá sụt lún đất và đề xuất giải pháp xư lý và khắc phục thuộc thôn XD, xã Thiện Kế, huyện Bình Xuyên tỉnh Vĩnh Phúc với Sở TNMT Vĩnh Phúc.

Trở thành địa chỉ tin cậy của các đối tác trong các hoạt động địa vật lý là do Liên đoàn luôn thực hiện đúng tiến độ, bảo đảm chất lượng các đề án.

PV: Bên cạnh hoàn thành các nhiệm vụ sản xuất, Liên đoàn VLĐC luôn chú trọng đẩy mạnh công tác nghiên cứu khoa học nhằm tăng cường khả năng nghiên cứu và nâng cao trình độ kỹ thuật cho đội ngũ cán bộ kỹ thuật, đồng thời áp dụng kết qủa nghiên cứu vào sản xuất, Ông có thể cho biết hoạt động này của Liên đoàn?

 Ông Lại Mạnh Giàu: Trong 5 năm qua, Liên đoàn đã thực hiện 5 đề tài, trong đó có 4 đề tài cấp bộ, 1 đề tài cấp cơ sở. Đã hoàn thành 3 đề tài KHCN, đang thực hiện 2 đề tài. Kết quả nghiên cứu của nhiều đề tài đều được áp dụng vào sản xuất.

Đề tài “Nghiên cứu xây dựng quy trình công nghệ thành lập bộ bản đồ môi trường phóng xạ tự nhiên được áp dụng thử nghiệm trên địa bàn tỉnh Phú Thọ” (2013-2014), đã phục vụ hiệu quả dự án “Xây dựng bộ bản đồ môi trường phóng xạ tự nhiên tỷ lệ 1/250.000 cho toàn lãnh thổ Việt Nam - Giai đoạn I (2011-2015) cho một số khu vực trọng điểm”.

Đề tài “Nghiên cứu xây dựng quy trình đánh giá triển vọng khoáng sản kim loại (sắt, chì-kẽm, đồng...) dưới sâu bằng tổ hợp phương pháp địa vật lý hiện đại được áp dụng thử nghiệm trên 03 cụm dị thường địa vật lý từ và trọng lực”, (2013-2014).

Hiện Liên đoàn đang triển khai một số đề tài nghiên cứu KHCN như: “Nghiên cứu xây dựng quy định về yêu cầu kỹ thuật đo lường cho các máy đo địa vật lý (địa chấn, xạ và điện) trong điều tra cơ bản địa chất và thăm dò khoáng sản”; “Cải tiến quy trình đo địa chấn phản xạ 2D ở khu vực đồi núi phục vụ nghiên cứu cấu trúc địa chất, điều tra đánh giá khoáng sản ẩn sâu”; “Nghiên cứu xác định tham số địa chấn các tầng trầm tích và các tập chứa than ở vùng trũng Sông Hồng”. Đề tài cấp cơ sở “Nghiên cứu xác định các tham số địa chấn các tầng, tập chứa than ở vùng trũng Sông Hồng” năm 2015 được áp dụng vào khâu xử lý số liệu cho Đề án: “Điều tra đánh giá tổng thể tài nguyên than phần đất liền, bể Sông Hồng”... Năm 2017, đã mở mới 6 đề tài, trong đó 5 đề tài cấp bộ và 1 đề tài cấp cơ sở với tổng kinh phí khoảng 15 tỷ đồng thực hiện trong 3 năm (2017-2019).

PV: Nghị quyết số 02-NQ/TW ngày 23/4/2011 của Bộ Chính về định hướng chiến lược khoáng sản và công nghiệp khai khoáng đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030 đã chỉ rõ nhiệm vụ của Ngành Địa chất Việt Nam là “Phát hiện mỏ mới với độ sâu đến 1000 m nhằm đánh giá đầy đủ, toàn diện tiềm năng khoáng sản trên đất liền, ở đáy biển và thềm lục địa của đất nước”. Để thực hiện tốt nhiệm vụ này, định hướng phát triển công tác địa vật lý tập trung vào các điểm gì, thưa ông?

Ông Lại Mạnh Giàu: Nghiên cứu, phát hiện khoáng sản ẩn, sâu đến độ sâu 1000 m là một vấn đề đặc biệt khó khăn, tùy thuộc rất nhiều vào thiết bị kỹ thuật, trình độ chuyên môn của người thực hiện. Phát hiện các mỏ khoáng sản ẩn, sâu cần phải nghiên cứu tổng thể cấu trúc, kiến tạo, địa động lực, đặc điểm sinh khoáng... của các loại hình khoáng sản cụ thể và có khả năng tồn tại trên lãnh thổ Việt Nam, từ đó khoanh định các diện tích có triển vọng để tiến hành điều tra, đánh giá tiếp theo.

Để đạt được mục tiêu đó cần phải được tiếp tục đầu tư các máy móc, trang thiết bị hiện đại và nâng cao trình độ của đội ngũ kỹ sư, kỹ thuật địa vật lý. Trước hết, để nâng cao trình độ cho đội ngũ địa vật lý cần phải tăng cường việc tìm hiểu, nghiên cứu kỹ thuật thu thập, minh giải số liệu địa vật lý trong lĩnh vực này của các nước tiên tiến trên thế giới; từng bước nghiên cứu, thí nghiệm áp dụng các phương pháp kỹ thuật mới, công nghệ mới cho một số đối tượng khoáng sản ẩn, sâu có triển vọng ở Việt Nam (sắt, đồng...) bằng các máy móc, thiết bị hiện có của Liên đoàn; tăng cường hợp tác khoa học với một số trung tâm, trường đại học ở trong nước và nước ngoài nhằm tích lũy kinh nghiệm, nâng cao trình độ cho đội ngũ kỹ thuật ĐVL.

Nghiên cứu địa chất sâu cần phải có các thiết bị hiện đại. Ngoài các thiết bị hiện có, Liên đoàn tiếp tục đề xuất với các cấp có thẩm quyền tăng cường mua sắm các thiết bị mới đáp ứng được yêu cầu nghiên cứu, phát hiện khoáng sản dưới sâu.

PV: Những yếu tố tạo nên những thành tựu nổi bật của Liên đoàn VLĐC trong chặng đường 50 năm qua là gì, thưa ông ?

Ông Lại Mạnh Giàu: Liên đoàn luôn chú trọng đổi mới công tác quản lý, cải cách hành chính; tăng cường sự phối hợp giữa các phòng chuyên môn nghiệp vụ; tăng cường sự chủ động sáng tạo; làm tốt công tác quy hoạch cán bộ làm cơ sở, bổ nhiệm lại cán bộ theo đúng quy trình, bảo đảm việc lãnh đạo, chỉ đạo điều hành công việc tại các phòng ban, đơn vị được liên tục; công tác tuyển dụng được quy hoạch và bám sát kế hoạch sản xuất; chú trọng công tác đào tạo, bồi dưỡng cho đội ngũ cán bộ kỹ thuật, nhất là số kỹ sư trẻ, ban hành quy chế về công tác đào tạo, quy định cụ thể về đối tượng, chi phí đào tạo; áp dụng công tác khoán và giao khoán trong triển khai thi công các nhiệm vụ. Công tác lập dự toán cho từng công việc đã thực hiện theo đúng trình tự và quy định hiện hành, tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình ứng vốn, quản lý và điều hành công việc trong toàn Liên đoàn và các đơn vị trực thuộc. Liên đoàn luôn quan tâm đến công tác an toàn lao động nên trong nhiều năm không xảy ra tai nạn lao động. Quan tâm tới quyền lợi NLĐ, thực hiện đầy đủ các chế độ chính sách tiền lương với người lao động. Thường xuyên phát động các phong trào thi đua trong CBCNVC nhằm động viên mọi người khắc phục khó khăn, phát huy sáng kiến cải tiến kỹ thuật phục vụ trong công tác sản xuất và nghiên cứu; đẩy mạnh công tác thi đua khen thưởng, xây dựng nhân rộng điển hình tiên tiến nên 5 năm vừa qua,  nhiều tập thể, cá nhân đã được cấp trên khen thưởng.

Bước vào giai đoạn phát triển mới, Liên đoàn Vật lý Địa chất tiếp tục khẳng định vai trò trung tâm về địa vật lý trong Ngành Địa chất Việt Nam. Với việc tăng cường nâng cao năng lực trong mọi hoạt động chuyên ngành ĐVL, Liên đoàn VLĐC chắc chắn sẽ có những đóng góp xứng đáng trong nhiệm vụ điều tra địa chất, khoáng sản và các lĩnh vực khác có liên quan trong công cuộc CNH-HĐH.

Giao nhan may DVL bien

PV: Xin cám ơn Liên đoàn trưởng Lại Mạnh Giàu đã dành cho chúng tôi cuộc trò chuyện chân tình, cởi mở. Chúc Liên đoàn VLĐC bước vào chặng đường mới đạt nhiều thành tựu vẻ vang, xứng đáng là một trong những cánh chim đầu đàn của Ngành ĐC&KS Việt Nam.                                                   

 Lê Thu Nga (thực hiện)