THÔNG BÁO: WEBSITE HIỆN ĐANG TRONG QUÁ TRÌNH CHẠY THỬ NGHIỆM
Thứ 3, 19/06/2018
Hotline: 0988003355

Giải cứu ô nhiễm môi trường tại các khu di tích

 Hằng năm, cứ sau dịp Tết Nguyên Đán cổ truyền của dân tộc, mùa lễ hội lại bắt đầu rộn ràng trên khắp mọi miền đất nước. Đây cũng là dịp hằng trăm điểm tích lịch sử, văn hóa của Việt Nam lại phải “gồng mình” gánh tải ô nhiễm. Thực trạng này gây ảnh hưởng nghiêm trọng tới việc bảo tồn di tích và bảo vệ cảnh quan thiên nhiên, môi trường.

Du khách thập phương đi lễ Phủ Tây Hồ

Tại Việt Nam hiện nay có hơn 40.000 di tích, thắng cảnh trong đó đã có 8 di tích được UNESCO công nhận là di sản thế giới, 48 di tích quốc gia đặc biệt, hơn 3.000 di tích được xếp hạng di tích quốc gia và hơn 5.000 di tích được xếp hạng cấp tỉnh. Các di tích lịch sử văn hóa, danh lam thắng cảnh đã và đang là nguồn tài nguyên du lịch tự nhiên và nhân văn vô giá của đất nước, tạo sức hút không nhỏ đối với du khách trong và ngoài nước, góp phần phát triển KT-XH. Nhưng có một hệ lụy đáng buồn là tại nhiều điểm di tích, việc khai thác du lịch một cách ồ ạt,  thiếu quy hoạch, thiếu đầu tư và quản lý chặt chẽ đã gây ra những ảnh hưởng nghiêm trọng tới môi trường làm mất đi vẻ đẹp cũng như sự tôn nghiêm của di sản.

Theo thống kê của BQL chùa Hương, lễ hội thường kéo dài trong 3 tháng với khoảng 1,5 triệu lượt khách/năm, thải ra khoảng 350 – 360 tấn rác. Trung bình lượng rác thải của khách du lịch là 3 – 4 tấn/ngày đêm, ngày cao điểm lên tới 7,5 tấn/ngày. Đến lễ hội Đền Hùng linh thiêng, tất cả mọi người tới đây để hướng về nguồn cội con rồng cháu tiên, ghi nhớ công lao những người con ưu tú của Lạc Việt đã khai thiên lập địa ra xứ trời Nam này nhưng lượng rác thải ra chốn uy nghiêm này cũng không hề nhỏ. Theo số liệu của Ban quản lý Đền Hùng, ước tính Khu trung tâm lễ hội vào những tháng bình thường có khoảng 5.000 - 6.000 du khách thải ra khoảng 900 - 1.200kg rác/ tháng. Vào những tháng lễ hội đầu năm có khoảng 45 vạn du khách, lượng rác thải ước tính 90 tấn /tháng. Ngày cao điểm lên tới 60 tấn rác/ngày.

Một số chuyên gia cho rằng, việc pháp luật của chúng ta còn nhiều “lỗ hổng” là lý do khiến các nhà quản lý và chuyên môn gặp lúng túng khi tìm kiếm những giải pháp cho tình trạng môi trường ngày càng xuống cấp tại một loạt các di tích tại nước ta hiện nay. Hiện Việt Nam chưa xây dựng một bộ tiêu chí đầy đủ để BVMT tại các di tích. Mặt khác, chúng ta cũng thiếu một chế tài cụ thể để xử lý những hành vi gây ra tác động xấu, ảnh hưởng đến môi trường tự nhiên, môi trường nhân văn gắn với di tích. Đồng thời, chưa có quy định rõ ràng và cụ thể về sự phối hợp giữa các ban ngành, giữa chính quyền địa phương với các ban ngành chức năng trong công tác BVMT tại di tích. Ngoài ra, chúng ta chưa hoàn thiện được một hệ thống các chính sách cụ thể để hỗ trợ cho các dân cư sinh sống trong khu vực di tích.

Thực tế, trong một vài năm trở lại đây, các địa phương đã có nhiều giải pháp về BVMT tại các điểm di tích và lễ hội, tuy nhiên những giải pháp này mới mang tính chất tạm thời, phạm vi hẹp và thiếu quy củ, quy hoạch, đặc biệt chưa có sự tham gia của các bên có liên quan, nhất là cộng đồng địa phương. Việc thực thi chính sách mới chỉ chú trọng tới việc phạt, cấm trong khi lại thiếu sự khuyến khích về ý thức và trách nhiệm cộng đồng. Thậm chí nhiều quy định phạt, cấm còn vượt quá quy định của Nhà nước và thiếu các căn cứ pháp lý cần thiết. Điều này, rõ ràng đang đặt ra những đòi hỏi cần phải sớm có một hành lang pháp lý cụ thể cho việc BVMT tại các điểm di tích, lễ hội nhằm vừa tận dụng được nguồn tài nguyên du lịch để phát triển đất nước, đồng thời cũng cải thiện được hình ảnh của người Việt, văn hóa Việt.

 Cần lắm những biện pháp mang tính hiệu quả cao và nhất là được thực hiện kịp thời, “tìm lối thoát” cho những di tích đang ngày đêm “oằn mình” chịu đựng những hệ quả của một môi trường tự nhiên và môi trường nhân văn ngày càng trở nên méo mó, biến dạng.

Liên quan trực tiếp đến lĩnh vực di sản, năm 1987, Việt Nam chính thức tham gia Công ước Bảo vệ các di sản văn hóa và tự nhiên của thế giới; kể từ đó nước ta đã có những tiến bộ rõ rệt và đạt được nhiều thành tựu trong công tác bảo tồn và phát huy giá trị của các di sản văn hóa và tự nhiên tại Việt Nam. Năm 2003, Việt Nam chính thức tham gia Công ước bảo vệ di sản văn hóa phi vật thể. Năm 2013, chúng ta lần đầu tiên được bầu vào Ủy ban Di sản thế giới. Đây là cột mốc quan trọng công nhận những thành tựu của nước ta trong lĩnh vực bảo tồn di sản, đồng thời cũng sẽ là cột mốc đánh dấu những thách thức mới cho các chuyên gia di tích và di sản Việt Nam.

Về mặt pháp lý, chúng ta đã xây dựng và kiện toàn hệ thống chính sách pháp luật về di sản, bao gồm: Luật Di sản văn hóa năm 2001 và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật di sản văn hóa năm 2009; Luật Du lịch năm 2005; Quy chế hoạt động văn hóa và kinh doanh dịch vụ văn hóa công cộng; cùng một loạt các văn bản pháp luật quy định và hướng dẫn cụ thể các vấn đề liên quan đến bảo tồn và phát huy giá trị các di tích, di sản tại Việt Nam.

Vấn đề BVMT di tích nhằm bảo vệ và phát huy giá trị di tích cũng được pháp luật Việt Nam đề cập đến trong các bộ Luật Di sản, Luật Môi trường hay Luật Du lịch. Có thể kể ra một số ví dụ như Khoản 1 điều 36 của Luật Di sản năm 2001 quy định về việc yêu cầu phải có ý kiến của cơ quan Nhà nước trước khả năng đe dọa đến môi trường di tích của các công trình xây dựng. Điều 77 của Luật Môi trường 2014 yêu cầu các tổ chức, cá nhân quản lý, khai thác và các cá nhân thăm quan khu di tích, điểm du lịch… đều phải thực hiện các biện pháp BVMT. Luật du lịch cũng dành riêng điều 9 đề cập đến vấn đề BVMT du lịch vv.

Thông tư liên tịch số 19/2013/TTLT-BVHTTDL-BTNMT ngày 30/12/2013 của Bộ Văn hóa Thể thao và Du lịch và Bộ TN&MT hướng dẫn về công tác BVMT trong hoạt động du lịch, tổ chức lễ hội, bảo vệ và phát huy giá trị di tích được coi là một bước tiến lớn cho những nhà quản lý môi trường di sản. Lần đầu tiên, một văn bản pháp luật đã đề cập một cách chi tiết, cụ thể hơn và tập hợp một cách khá hệ thống các vấn đề xung quanh công tác BVMT di tích Việt Nam, trong đó có dành riêng hẳn một chương về BVMT trong mùa lễ hội – một trong những vấn đề nóng nhất định kỳ mỗi năm của di tích Việt Nam.

Mặc dù,. đã có những tín hiệu vui, nhưng nhìn chung, những tồn tại lớn của hệ thống pháp lý nước ta về công tác BVMT di tích vẫn chưa được khắc phục tối đa. Thứ nhất, chúng ta vẫn chưa đưa ra được những tiêu chuẩn đánh giá về việc thực hiện công tác BVMT, cũng như những tiêu chuẩn đánh giá về môi trường tại các khu tích. Thứ hai, chúng ta cũng thiếu một chế tài cụ thể để xử lý những hành vi gây ra tác động xấu, ảnh hưởng đến môi trường tự nhiên, môi trường nhân văn gắn với di tích. Thứ ba, chúng ta chưa có quy định rõ ràng và cụ thể về sự phối hợp giữa các ban ngành, giữa chính quyền địa phương với các ban ngành chức năng trong công tác BVMT tại di tích. Thứ tư, chúng ta chưa hoàn thiện được một hệ thống các chính sách cụ thể để hỗ trợ cho các dân cư sinh sống trong khu vực di tích. Và thứ năm, chúng ta cũng chưa xây dựng được một chính sách về BVMT cho các hộ kinh doanh, dịch vụ trong khu vực di tích. Đây là những câu hỏi còn đang chờ lời giải đáp từ những nhà lập pháp, sự tham gia của các nhà quản lý và sự hiến kế từ các nhà chuyên môn.