THÔNG BÁO: WEBSITE HIỆN ĐANG TRONG QUÁ TRÌNH CHẠY THỬ NGHIỆM
Thứ 2, 11/12/2017
Hotline: 0988003355

Doanh nghiệp bảo vệ môi trường với tăng trưởng xanh và phát triển bền vững đất nước

Doanh nghiệp là hạt nhân của nền kinh tế, tạo ra sản phẩm và đóng góp ngân sách cơ bản cho nhà nước để giải quyết các vấn đề xã hội, sự phát triển của doanh nghiệp gắn với tăng trưởng kinh tế, chính vì vậy thực hiện TTX, phát triển bền vững vai trò cơ bản thực hiện vẫn là doanh nghiệp. Thực tiễn cho thấy, gây ra ONMT phần lớn cũng do doanh nghiệp, việc khắc phục ONMT cũng phải xuất phát từ doanh nghiệp. Phát huy được vai trò của các doanh nghiệp trong công tác BVMT là giải pháp then chốt nhằm giải quyết các áp lực về môi trường hiện nay. Đặc biệt, trong bối cảnh nguồn thu ngân sách và chi tiêu ngân sách cho BVMT ngày càng hạn hẹp nhưng các yêu cầu đặt ra cho việc thực hiện thành công các chiến lược, chính sách về TTX và phát triển bền vững ngày càng cao và đòi hỏi nhiều kinh phí. 

Doanh nghiệp bảo vệ môi trường với tăng trưởng xanh và phát triển bền vững ở Việt Nam

Tôn vinh các doanh nghiệp làm tốt công tác bảo vệ môi trường.

Theo Báo cáo hiện trạng môi trường quốc gia giai đoạn 2011 – 2015 của Bộ TN&MT cho thấy Việt Nam đang tồn tại nhiều vấn đề môi trường. Đặc biệt, vẫn còn một số lượng lớn cơ sở gây ONMT nghiêm trọng; tình trạng vi phạm pháp luật về BVMT diễn biến phức tạp. Đến nay, trên phạm vi cả nước vẫn còn 44/439 cơ sở gây ONMT nghiêm trọng theo Quyết định số 64/2003/QĐ-TTg chưa hoàn thành biện pháp xử lý ô nhiễm triệt để, gây ONMT nghiêm trọng kéo dài; 268/435 cơ sở gây ONMT nghiêm trọng theo Quyết định số 1788/QĐ-TTg đang triển khai xử lý ô nhiễm triệt để, trong đó có 136 cơ sở chậm tiến độ. Tỷ lệ các cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ xả nước thải, khí thải không đạt quy chuẩn cho phép ra môi trường, năm 2011 là 45,9% và năm 2015 là 24,5%.; Nhiều khu, cụm công nghiệp, làng nghề chưa được đầu tư xây dựng hạ tầng BVMT, gây ONMT: Tính đến nay, cả nước có 283 khu công nghiệp đang hoạt động, trong đó mới chỉ có 212 KCN đã hoàn thành việc xây dựng hệ thống xử lý nước thải tập trung, đạt tỷ lệ 75%; 615 cụm công nghiệp đang hoạt động nhưng chỉ có khoảng hơn 5% đầu tư xây dựng hệ thống xử lý nước thải tập trung. Các KCN, cum công nghiệp còn lại, hoặc tự xử lý nước thải hoặc xả trực tiếp ra môi trường, dẫn đến nước thải không đạt yêu cầu quy chuẩn Việt Nam. Ngoài ra, hiện nay cả nước có hơn 4.500 làng nghề hầu hết còn sử dụng công nghệ lạc hậu, gây ONMT. 

Hệ quả về ONMT đã và đang đặt ra rất nhiều thách thức lớn cho thực hiện định hướng TTX và phát triển bền vững ở Việt Nam như: Đã xảy ra sự cố môi trường lớn, tác động trên diện rộng; bùng phát các điểm nóng gây ONMT: xả thải, đổ thải, chôn lấp chất thải gây ONMT đã xảy ra ở nhiều địa phương. Có những vụ việc nghiêm trọng, kéo dài gây ra hậu quả lớn về môi trường, ảnh hưởng đến sản xuất, đời sống và sức khoẻ của người dân, gây ra nhiều bức xúc trong xã hội. Nước thải sinh hoạt ở hầu hết các đô thị, khu dân cư chưa được xử lý; rác thải sinh hoạt, chất thải công nghiệp chưa được quản lý tốt, gây ONMT. Nguồn nước mặt, nước dưới đất trong các đô thị, khu dân cư ở một số địa phương bị ô nhiễm nặng; Diện tích các hệ  sinh thái tự nhiên giảm mạnh, đa dạng sinh học tiếp tục bị suy thoái nhanh.

Mặc dù, các vấn đề ONMT đang ngày càng gia tăng và diễn ra trên diện rộng tại nhiều lĩnh vực, khu vực nhưng thực tiễn cho thấy các nguồn lực để giải quyết các vấn đề môi trường cấp bách vẫn còn rất hạn chế. Hiện nay các nguồn lực chính cho BVMT chủ yếu dựa vào các nguồn như: (i) Nguồn đầu tư từ ngân sách nhà nước: Nguồn ngân sách cho sự nghiệp môi trường; nguồn đầu tư phát triển; nguồn đầu tư tài chính cho chương trình mục tiêu quốc gia và một số đề án lớn về BVMT. Việc tăng cường đầu tư của nhà nước cho BVMT  đã có những chuyển biến, song  vẫn còn hạn chế so với các quốc gia khác, các khoản chi sự nghiệp môi trường có tính chất là nguồn chi thường xuyên nên kinh phí từ nguồn này không thể bố trí để đầu tư giải quyết đủ và triệt để các vấn đề môi trường bức xúc hiện nay và trong dài hạn. Vì vậy, mặc dù nguồn vốn từ ngân sách đầu tư hàng năm trong thời gian qua đã tăng nhưng chưa đáp ứng được yêu cầu thực tế về cải thiện môi trường, tăng cường cơ sở vật chất, hạ tầng, trang thiết bị hiện đại phục vụ cho công tác quản lý TNTN và BVMT, một số chỉ tiêu về BVMT không đạt được như kế hoạch đề ra. Bên cạnh đó, hiện nay còn tồn tại một số vấn đề trong phân bổ và sử dụng nguồn đầu tư từ ngân sách nhà nước cho BVMT như: chưa có ràng buộc ưu tiên bố trí chi từ nguồn đầu tư phát triển, tình trạng sử dụng nguồn ngân sách sự nghiệp BVMT chưa đúng mục đích cho các mục tiêu khác ở cả trung ương và địa phương; (ii) Nguồn đầu tư hỗ trợ từ Quỹ BVMT: Theo thống kê đến nay ở Việt Nam có 1 Quỹ BVMT ở cấp quốc gia, 1 Quỹ BVMT Ngành Than và 42 quỹ BVMT địa phương. Đây được xem là một kênh tài chính quan trọng để hỗ trợ, tài trợ cho các dự án đầu tư BVMT. Mặc dù trong những năm vừa qua, nguồn vốn hoạt động của các Quỹ BVMT các cấp ở Việt Nam không ngừng được mở rộng, tuy nhiên phần lớn các Quỹ vẫn đang gặp những khó khăn về thiếu nguồn vốn để đáp ứng các yêu cầu của các dự án BVMT. Các Quỹ BVMT mới chỉ tập trung hỗ trợ một số lĩnh vực ưu tiên như: xử lý nước thải, chất thải công nghiệp, khí thải; xử lý rác thải sinh hoạt; triển khai công nghệ sạch, thân thiện với môi trường, tiết kiệm năng lượng… Đặc biệt, ở các Quỹ BVMT cấp địa phương thì việc triển khai hoạt động cho vay ưu đãi còn khá hạn chế; và (iii) Nguồn đầu tư hỗ trợ từ nguồn lực xã hội và các tổ chức quốc tế: Bên cạnh nguồn đầu tư từ ngân sách nhà nước, Chính phủ đã huy động được nguồn đầu tư từ các thành phần kinh tế cho hoạt động BVMT. Trong những năm qua, việc huy động nguồn lực xã hội cho công tác BVMT đã được triển khai tập trung ở các hoạt động xử lý rác thải, nước thải sinh hoạt, chăn nuôi, vệ sinh môi trường cộng đồng, mô hình làng sinh thái, cải thiện môi trường làng nghề… Một số mô hình thực hiện việc huy động kinh phí từ cộng đồng trong các hoạt động sản xuất nông nghiệp, công nghiệp cũng đã được triển khai. Tuy nhiên, việc triển khai vẫn chủ yếu được tiến hành ở phạm vi hẹp, quy mô nhỏ, mô hình giản đơn, dễ thực hiện. Bên cạnh đó, tài trợ từ quốc tế đang đóng vai trò quan trọng trong công tác BVMT. So với trước đây, từ khi Việt Nam trở thành quốc gia có thu nhập trung bình thấp, thêm vào đó một số biến động kinh tế chính trị thế giới đã ảnh hưởng đến giảm các khoản đầu tư của các nước phát triển dành cho nước đang phát triển như Việt Nam.

Từ  thực trạng BVMT của các doanh nghiệp, các vấn đề môi trường cấp bách ở trên đang đặt ra thách thức lớn cho việc thực hiện thành công Chiến lược Quốc gia về TTX cũng như Chiến lược phát triển bền vững quốc gia giai đoạn 2011 – 2020, trong đó nhiệm vụ trọng tâm là riển khai thực hiện xanh hóa sản xuất  trong Chiến lược Quốc gia về TTX, thúc đẩy công nghệ xanh ở Việt Nam. Chính vì vậy, đòi hỏi phải có các giải pháp nhằm thúc đẩy các doanh nghiệp đầu tư vào lĩnh vực BVMT.

Trách nhiệm, lợi ích của doanh nghiệp khi đầu tư vào bảo vệ môi trường và tăng trưởng xanh

Để bàn luận về lợi ích của doanh nghiệp khi đầu tư vào BVMT và TTX trước hết cần xem xét khía cạnh “trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp”. Theo Hội đồng Kinh doanh Thế giới vì Sự Phát triển Bền vững (World Business Council for Sustainable Development) thì: “Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp là cam kết của doanh nghiệp đóng góp cho việc phát triển kinh tế bền vững, thông qua việc tuân thủ chuẩn mực về BVMT, bình đẳng giới, an toàn lao động, quyền lợi lao động, trả lương công bằng, đào tạo và phát triển nhân viên, phát triển cộng đồng, bảo đảm chất lượng sản phẩm… theo cách có lợi cho cả doanh nghiệp cũng như phát triển chung của xã hội”. Như vậy, trong định nghĩa về trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp bao hàm cả trách nhiệm đóng góp cho sự phát triển bền vững, trong đó bao hàm của vấn đề tuân thủ các chuẩn mực về BVMT.

Ảnh minh họa

Các lợi ích của doanh nghiệp

Khi doanh nghiệp tham gia vào quá trình thực thi các qui định về chuẩn mực BVMT hay thực hiện trách nhiệm xã hội của mình sẽ có những lợi ích mang lại cho chính doanh nghiệp như:

Thứ nhất, việc thực thi trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp sẽ góp phần nâng cao hình ảnh và thương hiệu của doanh nghiệp. Cùng với sự gia tăng nhận thức của xã hội, người tiêu dùng về tầm quan trọng và ý nghĩa của BVMT, việc doanh nghiệp tham gia đầu tư vào BVMT sẽ góp phần tạo ra sự tin tưởng của xã hội và người tiêu dùng đối với chính doanh nghiệp, chính những sản phẩm của doanh nghiệp làm ra. Do vậy, hình ảnh và thương hiệu của doanh nghiệp sẽ được nâng lên, thị trường tiêu thụ các sản phẩm sẽ bền vững hơn.

Thứ hai, tạo cơ hội cho doanh nghiệp tham gia sâu vào chuỗi cung ứng toàn cầu trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay. Trong những năm vừa qua, các điều khoản cam kết về môi trường trong các Hiệp định thương mại song phương và đa phương đã là một phần không thể thiếu trong các cam kết hội nhập đó. Ví dụ, Hiện nay, đa phần các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới mà Việt Nam tham gia ký kết và đang đàm phán đều có cam kết, nghĩa vụ về môi trường, cho thấy sự coi trọng của các quốc gia trong quá trình phát triển kinh tế luôn đảm bảo sự phát triển bền vững, như tại Hiệp định Thương mại tự do Việt Nam –EU; Hiệp định Thương mại tự do Việt Nam – Đối tác xuyên Thái Bình Dương(TPP); Hiệp định thương mại tự do Việt Nam – Hiệp hội mậu dịch tự do Châu Âu (EFTA). Hai hiệp định Việt Nam – EU, Việt Nam- Hiệp định mậu dịch tự do Châu Âu (EFTA) chủ yếu đề cập đến một số vấn đề môi trường bao gồm: Biến đổi khí hậu, các vấn đề môi trường (nói chung), bảo tồn đa dạng sinh học, quản lý chất thải, đào tạo và giáo dục về môi trường. Còn riêng Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP) đã dành hẳn 1 chương riêng để cam kết các vấn đề về môi trường. Do vậy, khi doanh nghiệp tham gia thực hiện trách nhiệm xã hội trong lĩnh vực BVMT sẽ góp phần tạo  ra cơ hội cho các sản phẩm của doanh nghiệp đáp ứng được các tiêu chuẩn quốc tế.

Thứ ba, khi tham gia đầu tư, thực hiện các nghĩa vụ về BVMT sẽ góp phần giảm thiểu chi phí và nâng cao hiệu quả sản xuất của doanh nghiệp. Hoạt động BVMT được định nghĩa là hoạt động giữ cho môi trường trong lành, sạch đẹp; phòng ngừa, hạn chế tác động xấu đối với môi trường, ứng phó sự cố môi trường; khắc phục ô nhiễm, suy thoái, phục hồi và cải thiện môi trường; khai thác, sử dụng hợp lý và tiết kiệm tài nguyên thiên nhiên; bảo tồn phục hồi đa dạng sinh học. Trong ngắn hạn nếu các doanh nghiệp đầu tư, chuyển đổi công nghệ, quy trình sản xuất theo hướng góp phần BVMT có thể sẽ làm cho chi phí sản xuất của doanh nghiệp tăng lên nhưng trong dài hạn thì sẽ góp phần làm giảm chi phí  sản xuất thông qua giảm sử dụng năng lượng, nguyên vật liệu, giảm các chi phí liên quan đến pháp lý BVMT, chi phí khắc phục sự cố môi trường, tạo ra không gian làm việc hiệu quả cho người lao động. Chính vì vậy, trong dài hạn thì hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp sẽ tốt hơn nếu ngay từ đầu chú trọng tới công tác BVMT.

Như vậy, việc đầu tư và chi cho các hoạt động BVMT sẽ giúp doanh nghiệp thu được lợi ích nhiều mặt về kinh tế, xã hội và vị trí thương mại. Thông thường, đầu tư cho các sáng kiến cải tiến nhằm đáp ứng các yêu cầu về môi trường và chi cho BVMT luôn giúp doanh nghiệp tiết kiệm được chi phí đầu vào cho sản xuất thông qua việc giảm tiêu hao năng lượng, tài nguyên, nhân lực. Mặt khác, các kết quả về BVMT cũng giúp doanh nghiệp cải thiện vị trí cạnh tranh trên thị trường một cách đáng kể, đặc biệt là trong xu thế ngày càng có nhiều nước thúc đẩy và triển khai các chương trình quốc gia về mua sắm và tiêu dùng xanh như hiện nay.

 Lợi ích ở cấp độ quốc gia

Việc doanh nghiệp tham gia vào việc thực hiện các trách nhiệm xã hội (bao gồm cả các trách nhiệm về BVMT) sẽ góp phần thực hiện thành công định hướng phát triển bền vững cũng như các mục tiêu phát triển thiên niên kỷ của toàn cầu. Đặc biệt, ở góc độ quốc gia cho thấy, Việc doanh nghiệp tăng cường đầu tư, tham gia vào thực hiện trách nhiệm, nghĩa vụ BVMT sẽ góp phần thực hiện thành công các định hướng lớn của Đảng và Chính phủ về “Tăng cường quản lý tài nguyên, BVMT và phát triển bền vững”; “tái cấu trúc nền kinh tế”; Chiến lược quốc gia về TTX, phát triển bền vững, BVMT… Một số lợi ích có thể nhìn nhận ở cấp độ quốc gia có thể nhận được gồm:

Thứ nhất, doanh nghiệp tăng cường BVMT sẽ góp phần thúc đẩy các ngành kinh tế mới (kinh tế xanh), các khu vực doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực cung cấp, sản xuất các hàng hóa và dịch vụ môi trường. Do đó, sẽ tạo ra cơ hội cho phát triển khu vực việc làm xanh và góp phần nâng cao thu nhập, đời sống cho người dân.

Thứ hai, giảm áp lực cho ngân sách nhà nước trong việc đầu tư cho BVMT. Đặc biệt, trong bối cảnh nguồn thu ngân sách hạn hẹp như hiện nay thì việc tham gia tích cực của các doanh nghiệp trong việc đầu tư các công trình, các giải pháp về BVMT sẽ thúc đẩy chủ trương xã hội hóa trong lĩnh vực BVMT, làm giảm áp lực cho NSNN về BVMT.

Thứ ba, thúc đẩy quá trình tái cấu trúc và chuyển đổi mô hình tăng trưởng. Việc huy động các doanh nghiệp tham gia đầu tư cho BVMT sẽ là một trong những biện pháp quan trọng góp phần thực hiện được các giải pháp chủ đạo về đổi mới mô hình tăng trưởng, cơ cấu lại nền kinh tế giai đoạn 2011 – 2020.

Thứ tư, lợi ích lớn nhất mà quốc gia nhận được thông qua việc huy động các doanh nghiệp tăng cường thực hiện trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp cho phát triển bền vững chính là góp phần nâng cao được lợi thế quốc gia, tăng cường sức mạnh tổng hợp của quốc gia.

Thứ năm, doanh nghiệp chủ động thực hiện BVMT chính là góp phần bảo đảm an ninh môi trường, ổn định xã hội và góp phần thực hiện các chỉ tiêu phát triển bền vững, nhất là hiện nay chúng ta đang thực hiện 17 chỉ tiêu trong Mục tiêu thiên niên kỷ toàn cầu về phát triển bền vững-SDGs từ nay đến năm 2030. 

Kiến nghị các giải pháp nhằm khuyến khích doanh nghiệp tham gia BVMT gắn với TTX vì mục tiêu phát triển bền vững đất nước

Để thúc đẩy doanh nghiệp tham gia BVMT gắn với TTX vì mục tiêu phát triển bền vững đất nước,  một số giải pháp sau cần phải được quan tâm sau đây.

Một là,  tăng cường tuyên truyền, phổ biến để nâng cao nhận  thức,  trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp trong công tác BVMT gắn với TTX nhằm hướng đến phát triển bền vững cho chính doanh nghiệp và cao hơn là góp phần thực hiện chiến lược TTX quốc gia và thực hiện mục tiêu phát triển bền vững-SDGs đến năm 2030.

Hai là, Xét về vĩ mô, trong nền kinh tế thị trường, doanh nghiệp và người dân là nhửng chủ thể tạo ra sản phẩm và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, đưa quốc gia tới thịnh vượng, chính vì vậy cần phải đẩy mạnh hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường trong quản lý tài nguyên, BVMT để tạo ra động lực khuyến khích doanh nghiệp chủ động tham gia BVMT gắn với TTX dựa trên các nguyên tắc của thị trường. 

Ba là, cần phải nghiên cứu thiết lập các công cụ kinh tế và cơ chế tài chính đột phá nhằm huy động các nguồn lực xã hội hóa cho BVMT. Muốn vậy cần phải vận dụng các nguyên tắc căn bản của thị trường trong quản lý môi trường như người “gây ô nhiễm phải trả tiền-PPP”, “người hưởng lợi từ môi trường phải trả tiền-BPP”, vận dụng linh hoạt các công cụ kinh tế phù hợp với thực tiễn Việt Nam như các loại thuế, phí, đặt cọc hoàn trả, quyền phát thải và mua bán phát thải theo hạn ngạch cho BVMT để điều chỉnh hành vi của doanh nghiệp.

Bốn là, hoàn thiện tổ chức bộ máy QLNN về môi trường từ trung ương xuống địa phương, tăng cường phối hợp giữa các bộ, ngành và địa phương trong việc thanh tra, kiểm tra và xử lý kịp thời các vi phạm về môi trường trong các doanh nghiệp, tăng vai trò giám sát và phối hợp của người dân và các cơ quan quản lý địa phương đối với doanh nghiệp trong công tác BVMT.

Năm là, rà soát, chỉnh sửa và bổ sung nhằm tăng cường tính hiệu lực, hiệu quả và tính thực thi của các quy định pháp luật về BVMT đối với doanh nghiệp kết nối với TTX và phát triển bền vững.

PGS.TS. NGUYỄN THẾ CHINH, TS. LẠI VĂN MẠNH

          Viện Chiến lược, Chính sách tài nguyên và môi trường